Một số ý kiến về ứng dụng các phương pháp thẩm định giá phần mềm tin học
26/07/2011 | 09:25
Một thế giới số đã hình thành và phát triển với tốc độ phi mã trên toàn thế giới, đem lại lợi ích to lớn cho tất cả các Quốc gia và tác động trực tiếp đến đại đa số dân chúng toàn cầu. Một nhân tố đặc biệt quan trọng không thể thiếu khi nói tới vấn đề này là ngành công nghiệp phần mềm (CNpPM).
Một thế giới số đã hình thành và phát
triển với tốc độ phi mã trên toàn thế giới, đem lại lợi ích to lớn cho
tất cả các Quốc gia và tác động trực tiếp đến đại đa số dân chúng toàn
cầu. Một nhân tố đặc biệt quan trọng không thể thiếu khi nói tới vấn đề
này là ngành công nghiệp phần mềm (CNpPM). Nhận thức được tầm quan trọng
đó, Đảng và Nhà nước ta từ những năm cuối của thế kỷ trước đã xác định
quyết tâm đẩy mạnh phát triển CNpPM, và đã ban hành nhiều cơ chế, chính
sách nhằm ưu đãi thúc đẩy phát triển cho ngành công nghiệp này. Nghị
quyết 07/2000/NQ-CP của Chính phủ năm 2000 đã xác định cần phải “Xây
dựng Công nghiệp phần mềm thành một ngành kinh tế mũi nhọn, có tốc độ
tăng trưởng cao”.
Năm 2005 là năm cuối cùng
triển khai kế hoạch tổng thể về ứng dụng và phát triển CNTT (Quyết định
95/2002/QĐ-TTg), đồng thời cũng là năm cuối cùng của việc triển khai
thực hiện Nghị quyết 07/2000/NĐ-CP của Chính phủ về việc xây dựng và
phát triển công nghiệp phần mềm.
Một vấn đề hiện nay đang bỏ
ngỏ trong thị trường Thẩm định giá ở Việt Nam là Tư vấn thẩm định giá
trị phần mềm tin học. Điều này quan trọng đối với các nhà quản lý kinh
tế cũng như các nhà sản xuất phần mềm bởi giá trị không nhỏ của nó: năm
2004, tổng giá trị sản phẩm/dịch vụ phần mềm của Việt Nam là 160 triệu
USD, trong đó tiêu thụ trong nước 120 triệu USD, gia công/xuất khẩu 40
triệu USD "Trích nguồn: Dự thảo Chương trình Phát triển CNpPM Việt Nam
2006-2010". Thực tế chi phí cho mua sắm phần mềm của nước ngoài còn cao
hơn nhiều con số này.
I. Sơ lược về phần mềm:
Trong việc thẩm định giá trị phần mềm có thể nhìn nhận dưới 02 góc độ:
1. Theo yêu cầu chức năng kỹ thuật và nhu cầu thị trường:
1.1. Phần mềm thông dụng;
1.2. Phần mềm chuyên dụng.
2. Theo mục đích:
2.1. Phần mềm đóng gói:
- Phần mềm ứng dụng là Phần mềm
được phát triển nhằm giúp giải quyết các công việc hàng ngày cũng như
các hoạt động nghiệp vụ như soạn thảo văn bản, quản lý học sinh, quản lý
kết quả học tập, quản lý thư viện, phần mềm kế toán, phần mềm quản trị
doanh nghiệp v.v.
- Phần mềm phát triển (còn gọi
là phần mềm công cụ) là các Phần mềm được dùng làm công cụ để cho các
lập trình viên, những người phát triển phần mềm sử dụng nó để phát triển
các phần mềm ứng dụng.
- Phần mềm hệ thống là các Phần
mềm tạo môi trường cho các phần mềm khác làm việc. Những phần mềm này
phải thường trực vì nó phải cung cấp các dịch vụ theo yêu cầu của các
phần mềm khác mà không biết trước yêu cầu đó xuất hiện khi nào.
2.2. Phần mềm sản xuất theo hợp đồng:
là những sản phẩm phần mềm được sản xuất đơn lẻ hoặc được phát triển từ
những phần mềm sẵn có theo các đơn đặt hàng hay theo hợp đồng giữa
người sử dụng với nhà sản xuất phần mềm. Phần mềm sản xuất theo hợp đồng
có thể là một sản phẩm hoàn chỉnh, một phần mềm gia công hoặc một phần
mềm nhúng.
- Phần mềm gia công là một hay nhiều phần của một sản phẩm phần mềm nào đó được một công ty.
- Phần mềm nhúng là phần mềm
được nhà sản xuất thiết bị cài sẵn vào thiết bị và chúng được sử dụng
ngay cùng với thiết bị mà không cần có sự cài đặt của người sử dụng hay
người thứ ba.
2.3. Dịch vụ phần mềm:
là các dịch vụ liên quan đến phần mềm như Dịch vụ bảo hành bảo trì,
dịch vụ đào tạo, dịch vụ chuyên môn, dịch vụ dự án, dịch vụ hỗ trợ triển
khai, cấp phép sử dụng bản quyền phần mềm, v.v.…
II. Cơ sở giá trị và các nguyên tắc thẩm định giá phần mềm:
1. Cơ sở giá trị:
1.1. Giá trị thị trường;
1.2. Giá trị phi thị trường;
2. Các nguyên tắc:
2.1. Sử dụng cao nhất và tốt nhất.
2.2. Sử dụng phù hợp.
2.3. Cung - Cầu trên thị trường.
2.4. Dự kiến lợi ích tương lai.
2.5. Sự đóng góp;
2.6. Sự thay thế.
III. Ứng dụng các phương pháp thẩm định giá phần mềm:
1. Phương pháp so sánh:
Yêu cầu của các phần mềm so sánh cần phải tương đương về các yếu tố thương mại và kỹ thuật sau:
1.1. Thương hiệu, xuất xứ của nhà cung cấp.
1.2. Kinh nghiệm, chuyên môn đặc thù của nhà cung cấp.
1.3. Kinh nghiệm, uy tín của các lập trình viên.
1.4. Thiết kế, giao diện, dung lượng.
1.5. Chức năng chính, chức năng đặc biệt, sự cập nhật, mức độ kết nối...
1.6. Quá trình thử nghiệm, hoàn thiện, mở rộng và các yếu tố khác liên quan.
2. Phương pháp chi phí:
Giá phần mềm được xác định dựa trên tổng giá trị hình thành các khoản mục sau:
2.1. Tiếp nhận ý tưởng, lập kế hoạch, thiết kế, tổ chức và điều hành quản lý.
2.2. Viết phần mềm theo các chức năng,
thông thường các phần mềm được chia thành nhiều module nhỏ, mỗi module
thực hiện một nhiệm vụ xác định và có sự kết nối với nhau..
- Module 1;
- Module 2;...
- Module n;
2.3. Tổ hợp các Module
2.4. Chạy thử, kiểm tra lần 1.
2.5. Sửa lỗi.
2.6. Chạy thử, kiểm tra lần thứ n.
2.7. Kiểm tra hệ thống.
2.8. Vận hành, hoàn thiện.
2.9. Cài đặt, chuyển giao, đào tạo.
2.10. Bảo hành, bảo trì, sửa chữa sự cố, chỉnh sửa, cập nhật, nâng cấp.
2.11. Các khoản thuế (nếu có).
2.12. Chi phí bán hàng (tùy thuộc vào sản phẩm, khách hàng và nhà cung cấp).
2.13. Các chi phí khác (tùy thuộc vào sản phẩm, khách hàng và nhà cung cấp)..
2.14. Lợi nhuận của nhà sản xuất (phụ thuộc vào thương hiệu và chiến lược của nhà sản xuất)
(Toàn bộ các khoản mục nêu trên được áp dụng tính theo chi phí cho hệ chuyên gia).
3. Phương pháp lượng giá phần mềm và áp dụng phương pháp lựa chọn giá trị thực (ROV):
3.1. Lượng giá phần mềm (software rating) sẽ bao gồm 2 giai đoạn (phase):
3.1.1. Trước khi tải dùng
(pre-downloading) với 5 tiêu chí lượng giá: tính tương thích, phạm vi
ứng dụng, thời hạn sử dụng, dung lượng tập tin cài đặt và loại hình kết
nối Internet hiện hữu.
3.1.2. Sau khi dùng thử (post-testing)
cần sử dụng ít nhất là 7 tiêu chí lượng giá: phiên bản sử dụng, hiệu quả
ứng dụng, tốc độ xử lý, tính dễ sử dụng, tính ổn định của phần mềm, nét
độc đáo của sản phẩm và yếu tố “sạch” của phần mềm. Giá trị của mỗi
tiêu chí sẽ được biểu diễn trên một hệ trục từ 0 cho đến 10 điểm. Phụ
thuộc vào 5 đường chuẩn lượng giá: đường thẳng số 1 (tuyệt vời), đường
thẳng số 2 (tốt), đường thẳng số 3 (khá), đường thẳng số 4 (trung bình)
và đường thẳng số 5 (yếu).
Trong trường hợp phần mềm chuyên dùng
cần sử dụng thêm các tiêu chí sau: Tính bảo mật (Security), thương mại,
lợi thế kinh doanh tương lai, yêu cầu thương hiệu, tính đa dạng, tính
cập nhật (update), kiến trúc tổng thể (Design), yêu cầu chức năng
(Func), yêu cầu đặc biệt (Spec).
Bảng ký hiệu mã số các tiêu chí:
|
Mã
|
Tiêu chí
|
Mã
|
Tiêu chí
|
|
M1
|
tính tương thích
|
M12
|
tốc độ xử lý
|
|
M2
|
phạm vi ứng dụng
|
M13
|
tính dễ sử dụng
|
|
M3
|
thời hạn sử dụng
|
M14
|
tính ổn định của phần mềm
|
|
M4
|
dung lượng tập tin cài đặt
|
M15
|
nét độc đáo của sản phẩm
|
|
M5
|
loại hình kết nối Internet
|
M16
|
yếu tố “sạch” của phần mềm
|
|
M6
|
phiên bản sử dụng
|
M17
|
Tính bảo mật (Security)
|
|
M7
|
hiệu quả ứng dụng
|
M18
|
thương mại
|
|
M8
|
lợi thế kinh doanh tương lai
|
M19
|
tính đa dạng
|
| M9 |
yêu cầu thương hiệu |
M20 |
tính cập nhật (update) |
| M10 |
kiến trúc tổng thể (Design), |
M21 |
yêu cầu chức năng (Func), |
| M11 |
yêu cầu đặc biệt (Spec) |
|
|

- Nhận xét: theo phân tích biểu đồ giá
trị nêu trên cho thấy giá trị phần mềm đạt khoảng 9*/10* so với giá trị
tối đa (đa phần đường biểu diễn giá trị nằm trên 9).
- Lượng giá cho kết quả: V/Vm.
3.2. Áp dụng phương pháp lựa chọn giá trị thực (ROV):
Tỷ lệ thông dụng tính điểm cho phần mềm:
Design = D % Giá bán. Func = F % Spec = S %.
Lựa chọn phần chiếm tỷ trọng cao nhất là Func để xác định giá trị thực.
Giả sử phần mềm có N module, mỗi module
có Xi(i=1,n) chức năng chính. Áp giá bình quân gia quyền đại diện (so
sánh bằng sản phẩm tương đồng với thương hiệu, chức năng...với phần mềm
thẩm định giá) cho 01 chức năng chính là Y (USD).

IV. Hạn chế của các phương pháp thẩm định giá phần mềm.
Phần mềm tin học nói chung
mang hàm luợng chất xám cao, giá trị và lợi ích của nó rất khó định
lượng. Để có cơ sở xác định giá trị của phần mềm tin học, nhất thiết cần
phân tích kỹ các yếu tố thương mại và kỹ thuật của cả phần mềm cũng như
nhà cung cấp. Đó có thể là thương hiệu, kinh nghiệm của nhà cung cấp,
uy tín của các lập trình viên hay chức năng, quá trình thử nghiệm của
phần mềm...
Tuy nhiên việc xác định giá trị phần mềm
còn phụ thuộc rất nhiều vào cung và cầu của thị trường. Đối với các
phần mềm chuyên dụng, đòi hỏi điều kiện thương mại và kỹ thuật quốc tế
thì thường chỉ có một số nhà cung cấp quốc tế có đủ khả năng đáp ứng. Vì
vậy nhà cung cấp thường áp giá bán theo khu vực hoặc quốc gia. Nếu có
sự hiểu biết về lượng giá phần mềm thì chắc chắc việc mua hoặc bán phần
mềm sẽ dễ dàng và hiệu quả hơn cho nhà đầu tư.
Hơn nữa chi phí cho các chuyên gia lập
trình cũng phụ thuộc vào từng khu vực, quốc gia, thậm chí doanh nghiệp
cung cấp sản phẩm. Vấn đề chi phí này phụ thuộc cơ bản vào mức độ phát
triển, thu nhập bình quân đầu người từng quốc gia. Vì vậy giá bán sản
phẩm phần mềm ở các quốc gia có thể khác nhau.
Với mỗi loại sản phẩm phần mềm khác nhau
cần có sự hiểu biết sâu về công nghiệp phần mềm nói chung để có đủ khả
năng xác định đó là phần mềm bán một lần hay bán đồng loạt, viết theo
đơn đặt hàng duy nhất hay là sự kế thừa từ sản phẩm tương tự? Vì vậy cần
thiết phải sử dụng phương pháp chuyên gia trong trường hợp phức tạp.
Thực tế Việt Nam hiện nay chưa kiểm soát
được chi phí mua phần mềm tin học trong nước cũng như quốc tế, trang
thông tin của Bộ Tài Chính cũng đã đăng tải về vấn đề này. Vì vậy cần
thiết một tổ chức thẩm định giá trung gian có đủ năng lực xác định giá
trị phần mềm là một tất yếu khách quan.
Lê Minh Toán - Phó Tổng giám đốc SIVC
Người đăng